Showing posts with label bảo vệ sức khỏe. Show all posts

Việt Nam đã phát hiện 2 ca nhiễm virus Zika đầu tiên.

Ngày 5/4 Bộ Y tế công bố 2 trường hợp nhiễm virus Zika đầu tiên tại Khánh Hòa và TP HCM.

Bệnh nhân đầu tiên là nữ, 64 tuổi, trú tại Phước Hòa, Nha Trang. Bệnh nhân khởi sốt ngày 26/3 với triệu chứng sốt nhẹ, đau đầu, nổi ban ở hai chân và đau mắt đỏ. Sau hai ngày tự uống thuốc hạ sốt ở nhà nhưng không đỡ, bệnh nhân khám tại Bệnh viện Nhiệt đới Khánh Hòa.

Ngày 31/3 kết quả xét nghiệm của bệnh nhân tại Viện Pasteur Nha Trang khẳng định dương tính với virus Zika. Sau đó mẫu bệnh phẩm được chuyển ra Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xét nghiệm lại, ngày 4/4 đã có kết quả dương tính.

Ca bệnh thứ hai là một phụ nữ 33 tuổi ở quận 2, TP HCM. Bệnh nhân phát bệnh ngày 29/3 với triệu chứng tương tự gồm sốt phát ban, viêm kết mạc, mệt mỏi và khám tại Bệnh viện Đa khoa quận 2 ngay trong ngày. Kết quả xét nghiệm của bệnh nhân liên tiếp 2 lần đã trả lời dương tính với Zika. Sau đó mẫu bệnh phẩm cũng được chuyển tới Viện Vệ sinh dịch tễ TW xét nghiệm lại, khẳng định dương tính hôm 4/4.

Thứ trưởng Long nhận định trong thời gian tới sẽ có thể có nhiều ca bệnh hơn.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, bệnh nhân nữ ở Khánh Hòa không có tiền sử đi đến vùng có dịch. UBND tỉnh đã triển khai các biện pháp khoanh vùng ổ dịch tại khu vực bệnh nhân này sinh sống. Bệnh nhân thứ hai ở TP HCM có thai 8 tuần, có chồng đang làm việc tại Maylaysia về Việt Nam trước đó 14 ngày. Chồng bệnh nhân này không có biểu hiện bệnh; con gái 2 tuổi một tuần trước bị sốt, kết quả xét nghiệm cho thấy bé mắc sốt xuất huyết. Bộ Y tế đang mở rộng giám sát điều tra những người tiếp xúc, người xung quanh. Hiện sức khỏe hai bệnh nhân ổn định.

Ngủ trưa quá liều dễ chết sớm?


Việc quá nuông chiều bản thân bằng thói quen ngủ trưa "xả láng" sẽ khiến cơ thể bạn phải đối mặt với những cảnh báo khôn lường về sức khỏe.

1. Ngủ trưa nhiều - lợi bất cập hại

Nghiên cứu mới nhất của tiến sĩ Tomohide Yamada thuộc Đại học Tokyo cùng các cộng sự của ông trên 307, 237 người đã dấy lên một hồi chuông cảnh báo về những tác hại không ngờ tới mà giấc ngủ trưa "quá liều" gây nên. Thông qua 21 thí nghiệm quan sát, các đối tượng tham gia nghiên cứu được đặt các câu hỏi: "Bạn có gặp vấn đề gì về việc buồn ngủ vào giữa ngày không?", "Bạn có ngủ trưa không?",... sau đó dữ liệu thu thập sẽ đem so sánh với số liệu của các bệnh nhân béo phì và tiểu đường tuýp 2.

Kết quả thu được thật đáng bất ngờ: những người ngủ trưa hơn 40 phút một ngày sẽ đối mặt với nguy cơ bị rối loạn trao đổi chất, cao huyết áp và cholesterol, tích tụ mỡ thừa (đặc biệt ở vùng eo), lượng đường trong máu tăng cao,... dẫn đến những rủi ro khó tránh về bệnh tim mạch.

Giấc ngủ trưa giúp bạn tỉnh táo và hồi phục năng lượng.

Thời đại hoàng kim của kháng sinh đã qua, trước mắt sẽ là cơn ác mộng với loài người.

Năm 1928, penicillin, loại kháng sinh đầu tiên được tìm ra bởi một nhà sinh học người Scotland, Alexander Fleming. Ông được coi là người đã mở ra kỷ nguyên vàng của kháng sinh trong y học. Nó được gọi là thần dược của tây y, khi đã cứu hàng triệu người bệnh mỗi năm khỏi cái chết gây ra bởi nhiễm khuẩn.

Tuy nhiên, câu chuyện tuyệt vời ấy dường như đang đi đến hồi kết. Sau hơn 70 năm kháng sinh được đưa vào y học, thời đại hoàng kim của nó đã không còn được duy trì. Có hàng triệu người đã chết mỗi năm trong thời đại chưa có kháng sinh, và rồi sẽ là một con số tương tự trong những năm sắp tới. Cơn ác mộng này mang tên "kháng kháng sinh", và xuất phát từ chính sự lạm dụng thuốc của con người.


Vi khuẩn sống sót trước kháng sinh là cơn ác mộng với nhân loại.


Kháng kháng sinh là gì?

Kháng kháng sinh là hiện tượng xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc kháng sinh. Chúng không những tồn tại mà còn sinh sản ra những thế hệ vi khuẩn mới, cũng có đặc tính kháng thuốc và hóa chất điều trị nhiễm trùng.

Một chủng vi khuẩn có thể phát triển để chống lại từ một cho đến hàng chục loại thuốc kháng sinh khác nhau. Khi đó, bệnh nhiễm trùng trở nên khó khăn hoặc thậm chí không thể điều trị. Trong một vài trường hợp, bệnh nhân có thể phải trải qua phẫu thuật cắt bỏ, hoặc thậm chí tử vong vì kháng kháng sinh.

Tại sao kháng kháng sinh là một cơn ác mộng với loài người?

Nếu bạn quay lại trước những năm 1943, khi thuốc kháng sinh chưa xuất hiện, mọi cái chết xung quanh chúng ta không đến từ ung thư hay bệnh tim mạch. Con người sẽ chết vì các vết thương khi bị ngã, trúng đạn, tai nạn lao động... Phần lớn những vết thương dẫn đến nhiễm trùng và kết thúc cuộc sống của một ai đó.

Tuy nhiên, tất cả thay đổi sau khi Fleming tìm ra penicillin. Nhiễm trùng được coi là án tử, đột nhiên lại có thể chữa trị chỉ sau "một cái búng tay" với kháng sinh. Giống như một phép lạ vậy, điều đó mở ra một kỷ nguyên vàng son cho thuốc tây y. Những viên kháng sinh được coi là thần dược.

Cho tới nay, đã hơn 70 năm trôi qua, và chúng ta nghi ngờ rằng có mấy khi một thời kỳ vàng son của điều gì có thể kéo dài đến vậy. Chẳng còn sớm nữa để nghĩ về sự sụp đổ của thời đại kháng sinh, khi vi khuẩn đang ngày càng kháng thuốc.


Những năm 1943, thuốc kháng sinh được coi là phép màu.

Nói về một nền văn minh hiện đại, chúng ta hay tưởng tượng đến nhà máy điện, máy vi tính, thiết bị cầm tay... Nhưng mấy ai biết rằng kháng sinh là một trong những trụ cột đang chống đỡ thế giới ấy. Nếu thời đại kháng sinh sụp đổ, nền văn minh sẽ rung chuyển như thế nào?

Đầu tiên, chúng ta sẽ mất hết lá chắn phòng vệ cho những người có hệ miễn dịch yếu. Họ bao gồm bệnh nhân ung thư, người nhiễm HIV, trẻ em đẻ non... Điều này đồng nghĩa với cái chết của tất cả những con người này.

Tiếp đến, kỹ thuật phẫu thuật của loài người bị vô hiệu hóa. Nhiều ca phẫu thuật được yêu cầu sử dụng kháng sinh phòng ngừa. Khi kháng sinh mất tác dụng, phòng phẫu thuật của bệnh viện như không có mái che.

Chúng ta sẽ không thể mổ tim, ghép thận, đưa ống thông cho bệnh nhân đột quỵ... Chúng ta không thể phẫu thuật dù chỉ đơn giản là chỉnh lại khớp gối. Không thể đẻ mổ, và dù cho trong những bệnh viện hiện đại nhất, cứ 100 sản phụ sẽ có 1 người tử vong.

Kháng kháng sinh dẫn đến sự thất bại trong điều trị nhiễm trùng.

Nhiễm trùng gây ra nỗi sợ hãi từ những bệnh tầm thường. Viêm họng liên cầu gây suy tim. Viêm phổi giết chết 3 trong 10 trẻ em mắc bệnh. Nhiễm trùng da đồng nghĩa với phẫu thuật cắt bỏ chi. Hãy nhớ lại trường hợp đầu tiên được điều trị penicillin. Albert Alexander trước đó đã mất một con mắt trong tình trạng da đầu rỉ mủ, chỉ bắt đầu từ việc bị gai xước vào mặt trong khi làm vườn.

Rồi thì bạn còn dám làm gì nữa khi mà bất cứ tổn thương nào cũng có thể giết người. Bạn có dám đi xe máy, trượt patin, trèo thang để sửa mái nhà hay đặt con bạn chơi đùa dưới sàn nhà?

Bao giờ thì những điều này xảy ra?

Bạn có giật mình không khi biết rằng chúng ta đã ở trong cơn ác mộng này rồi?

Cho tới ngày hôm nay, loài người có trong tay trên dưới 100 loại kháng sinh. Con số không khác biệt là mấy từ những năm đầu thế kỷ 21. Nhưng năm 2000, một bệnh nhân người Mỹ đầu tiên được Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh và Phòng ngừa Hoa Kỳ (CDC) xác nhận kháng tất cả các kháng sinh, chỉ trừ hai loại.

Năm 2008, các bác sĩ Thụy Điển phải đối mặt với trường hợp một bệnh nhân Ấn Độ nhiễm trùng mà kháng toàn bộ kháng sinh chỉ trừ 1 loại.

10 triệu người sẽ chết mỗi năm vì kháng kháng sinh vào năm 2050.

Nhưng bạn đừng nghĩ đó chỉ là những trường hợp đơn lẻ. Mỗi năm, riêng Hoa Kỳ và Châu Âu có khoảng 50.000 người chết vì nhiễm trùng mà không có thuốc chữa. Một dự án được tài trợ bởi chính phủ Anh mang tên "Chương trình Đánh giá Kháng kháng sinh" ước tính tổng số ca tử vong loại này trên thế giới là 700.000 người mỗi năm. Năm 2050, con số sẽ lên đến 10 triệu ca với tốc độ kháng kháng sinh phát triển như hiện nay.

Bỏ qua những con số, bạn cũng có thể biết được cơn ác mộng đã đến với chính mình và người thân. Thời gian trước đây, triệu chứng tiểu buốt do nhiễm trùng đường tiết niệu có thể chữa khỏi hoàn toàn bằng một đơn kháng sinh ngắn ngày. Bây giờ, bạn có thể phải dùng đến vài ba loại thuốc.

Nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng con bạn có nguy cơ nằm trong 25% trẻ em nhiễm trùng đường tiết niệu phải sử dụng 3 loại kháng sinh khác nhau. 25% còn lại phải điều trị với 2 loại thuốc và chỉ còn một nửa trẻ em có thể trị khỏi bằng một loại thuốc duy nhất.

Ngày 30 tháng 4 năm 2014, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố trong một báo cáo rằng nhân loại thực sự đang ở trong cơn ác mộng của kháng kháng sinh. Nó là một mối đe dọa nghiêm trọng và thách thức y học trong thời điểm này. WHO nói "không hành động ngay hôm nay, tương lai chúng ta sẽ chẳng còn thuốc chữa bệnh".

Fleming đã biết trước mọi thứ?

Alexander Fleming, người mở đường cho thời kỳ vàng của tây y với kháng sinh.

Alexander Fleming, nhà sinh học người Scotland được coi là cha đẻ của kháng sinh khi ông phát hiện ra penicillin vào năm 1928. Năm 1943, những liều penicillin thương mại đầu tiên được tung ra. Hai năm sau đó, Fleming nhận giải Nobel cho phát hiện của mình.

Nhưng ngay trong buổi phỏng vấn sau đó, ông đã cảnh báo đến viễn cảnh không vui khi vi khuẩn có thể trở nên kháng thuốc. "Những người lạm dụng penicillin ngày hôm nay, họ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn kháng penicillin sau này", Flenming nói. "Tôi hy vọng điều nguy hiểm này có thể được kiểm soát".

Và rồi đúng như vậy. Năm 1943, penicillin được tung ra thì năm 1945, vi khuẩn kháng penicillin xuất hiện. Con người lại đi tìm những loại kháng sinh mới. Năm 1972, vancomycin được điều chế, kháng vancomycin xuất hiện năm 1988.

Imipenem ra đời năm 1985 thì đến năm 1998, kháng imipenem xuất hiện. Một trong những loại kháng sinh mới nhất của nhân loại, daptomycin ra đời năm 2003 thì chỉ 1 năm sau xuất hiện vi khuẩn kháng nó.

Điều này được ví như trò chơi nhảy cừu. Thuốc ra đời, vi khuẩn kháng nó và rồi chúng ta lại đi tìm loại thuốc mới. Nhưng có vẻ như loài người đang hụt hơi khi mà một chủng vi khuẩn mới sinh ra cứ mỗi 20 phút, các công ty dược phẩm thì cần đến cả thập kỷ đế nghiên cứu một loại kháng sinh.
Chúng ta có thể làm gì?

Trước hết, hãy nói về nguyên nhân tại sao vi khuẩn có thể trở nên kháng thuốc. Xét dưới góc độ tế bào, nó là việc vật chất di truyền DNA của vi khuẩn được biến đổi để: tránh sự xâm nhập của kháng sinh vào chúng, giúp vi khuẩn tổng hợp enzyme gây bất hoạt hoặc phân hủy kháng sinh, thay đổi con đường chuyển hóa và chúng thải được kháng sinh ra khỏi tế bào.

Con người đã và đang lạm dụng thuốc kháng sinh.

Bỏ qua những điều phức tạp này, bạn nên biết đến chính con người đã tiếp tay cho vi khuẩn biến đổi gen của chúng. Đó là những hành động được gọi chung cái tên: lạm dụng thuốc kháng sinh.

Bạn có bao giờ dùng kháng sinh để điều trị bệnh cúm mà không biết nó gây ra bởi virus chứ không phải vi khuẩn? Bạn có bao giờ tự ý giảm liều lượng hay thời gian điều trị kháng sinh của bác sĩ xuống một nửa mà không biết điều đó tạo điều kiện cho vi khuẩn sống sót và tạo gen kháng thuốc?

Rồi khi chúng ta sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, thú y, sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp, đó là điều kiện cho những vi khuẩn ở động vật kháng thuốc rồi ảnh hưởng tới cả con người. Sử dụng chất diệt khuẩn trong lau rửa thường xuyên cũng tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc.

Cho tới nay, kháng kháng sinh đã trở thành vấn đề toàn cầu chỉ bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt nhưng ai cũng làm thường xuyên như vậy. Những giải pháp toàn cầu cũng sẽ phải được đặt ra. Có thể là chúng ta nên nghiêm cấm hẳn việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và ngư nghiệp. Thiết lập một cổng kiểm soát kê đơn kháng sinh để tránh lạm dụng bừa bãi hay xây dựng hệ thống giám sát cảnh báo kháng thuốc sắp xảy ra...

Nhưng rồi đó là những điều quá to lớn và cần một nguồn tài trợ không hề nhỏ. Tại sao chúng ta không bắt đầu bằng những hành động của từng cá nhân?

Mỗi cá nhân cần hành động để chống lại vi khuẩn kháng thuốc.

Bằng cách đọc bài viết này, bạn cũng đã góp phần vào nguy cơ giảm kháng kháng sinh xảy ra trong tương lai. Nếu bạn thực sự muốn chung tay cùng nhân loại chiến đấu trong cơn ác mộng chung, dưới đây là một số khuyến cáo mà nên được thực hiện và chia sẻ với mọi người:
  • Đừng bao giờ tự ý sử dụng kháng sinh. Ví dụ như bệnh cúm thông thường do virus, bạn có uống kháng sinh cũng không thể hiệu quả được.
  • Nói chuyện với bác sĩ nếu họ kê đơn kháng sinh cho bạn. Hãy hỏi họ xem liệu có thể điều trị ngoài kháng sinh hay không? Và nếu bắt buộc, loại kháng sinh đó có phù hợp với cơ thể bạn?
  • Tuân thủ nghiêm ngặt liều và thời gian điều trị với kháng sinh của bác sĩ, ngay cả khi bạn nghĩ mình đã tốt hơn hoặc đã khỏi bệnh. Giảm liều hay dừng điều trị sớm tạo điều kiện cho vi khuẩn tồn tại kháng thuốc và tái nhiễm.
  • Đừng tiết kiệm kháng sinh đã điều trị ở đợt trước để dùng lại. Vứt bỏ chúng, bởi lần sau có lẽ chúng sẽ mất tác dụng.
  • Cùng một bệnh nhưng đừng sử dụng đơn thuốc của người khác. Như đã nói không phải kháng sinh nào cũng phù hợp với bạn.
  • Bỏ ngay thói quen yêu cầu bác sĩ kê kháng sinh cho mình. Họ là những người có kinh nghiệm và nếu bạn không có dấu hiệu nhiễm trùng, điều trị các triệu chứng với thuốc ngoài kháng sinh là đủ.



Ba con đường lây nhiễm chính của virus Zika.

Nhiều bằng chứng khẳng định 3 con đường lây lan chính của virus Zika là qua đường muỗi đốt, quan hệ tình dục và truyền máu.

Theo trang tin CBS News (Mỹ), việc lây lan nhanh chóng virus Zika tới mức báo động đã làm dấy lên những lo ngại và nghi vấn về các con đường lây nhiễm của loại virus gây teo não này.

Bệnh do virus Zika rất khó nhận biết khi ước tính có khoảng 80% số người nhiễm virus Zika không có biểu hiện của các triệu chứng, bao gồm: sốt nhẹ, viêm kết mạc, nhức đầu, đau khớp và phát ban. Đặc biệt, Zika có thể gây ra chứng teo não đối với thai nhi trong bụng người mẹ bị nhiễm virus.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nhiều bằng chứng khẳng định 3 con đường lây lan chính của virus Zika là qua đường muỗi đốt, quan hệ tình dục và truyền máu.

Đường muỗi đốt:


Tiến sĩ Tom Frieden, Giám đốc CDC cho biết muỗi Aedes, loài mang virus Zika, có thể hút máu được 4-5 người trong cùng một bữa ăn, có nghĩa là nó có thể lây lan dịch bệnh nhanh chóng.

Đến nay ở Mỹ, các quan chức y tế địa phương báo cáo có ít nhất 79 trường hợp nhiễm virus Zika khi du lịch, nghĩa là những người đó đã đến những vùng bệnh, bị nhiễm và phát bệnh ngay sau khi trở về nhà.

Mới đây CDC phát hiện, virus Zika lây lan không chỉ qua đường muỗi đốt, mà còn qua quan hệ tình dục và truyền máu.
Mới đây CDC phát hiện, virus Zika lây lan không chỉ qua đường muỗi đốt, mà còn qua quan hệ tình dục và truyền máu. (Ảnh: Washingtonpost)

Quan hệ tình dục:


Các cơ sở y tế trên thế giới đã ghi nhận một số trường hợp lây truyền virus Zika qua đường tình dục, trong đó có một người ở Texas, Mỹ. Theo báo cáo, người này bị nhiễm virus sau khi quan hệ với một người bệnh vừa trở về từ Venezuela, nơi virus Zika đang bùng phát.

Theo CDC, virus Zika có thể tồn tại trong tinh dịch của nam giới 10 tuần sau khi bệnh khởi phát. Một số người nhiễm bệnh nhưng lại không có biểu hiện sẽ truyền virus cho các đối tác tình dục.

Vì vậy, CDC khuyến cáo những người đàn ông sống hoặc du lịch tới khu vực bị ảnh hưởng bởi virus Zika nên tránh sinh hoạt tình dục, hoặc sử dụng các biện pháp phòng tránh như bao cao su, đặc biệt với phụ nữ mang thai để bảo vệ thai nhi.

Truyền máu:


Theo Reuters, đầu tháng 2, các quan chức y tế Brazil đã xác nhân 2 trường hợp nhiễm bệnh qua đường truyền máu từ người mang virus Zika.

Các chuyên gia khuyến cáo việc hiến máu và truyền máu cần được đảm bảo và xét nghiệm virus cẩn thận. Tại Mỹ, các ngân hàng máu lớn, bao gồm cả Hội chữ thập đỏ Mỹ, đã yêu cầu người dân không nên hiến máu nếu họ vừa tới Mexico, vùng Caribbean, Nam hay Trung Mỹ trong vòng 28 ngày.

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng phát hiện virus Zika có thể được tìm thấy trong sữa mẹ, nước bọt và nước tiểu. Tuy nhiên, tại thời điểm này vẫn chưa xảy ra trường hợp nào nhiễm virus qua các con đường này.

Chiều 23/3, ông Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, cho biết Việt Nam nhận được thông tin từ Cơ quan đầu mối Điều lệ Y tế quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thông báo tại Australia đã xác định một trường hợp nhiễm virus Zika sau khi trở về từ Việt Nam.

Du khách này đến Việt Nam từ ngày 26/2 và xuất cảnh về Australia ngày 6/3, đến ngày 8/3, có biểu hiện triệu chứng nhiễm vi rút Zika như sốt, phát ban, đau đầu, đau cơ, viêm kết mạc, buồn nôn.

Trong thời gian ở Việt Nam, người này đã đi đến TP HCM, Lâm Đồng, Khánh Hòa và Bình Thuận.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện tại, 59 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ghi nhận sự lưu hành của virus Zika, trong đó có một số quốc gia gần Việt Nam như Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia.



Theo: giadinh.net.vn


Những tình huống tắm có thể gây tử vong bất ngờ.

Có thể bạn không tin nhưng thực sự đã có các trường hợp sau khi tắm có thể dẫn tới đột tử sau khi tắm, bài viết này tổng hợp một số sai lầm khi tắm có thể sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của bạn.


Nằm điều hòa ngay sau khi tắm

Việc nhiệt độ hạ thấp đột ngột ngay sau khi tắm sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động lưu thông máu trong cơ thể, làm cho máu lên não chậm, không những thế còn ảnh hưởng tới nhịp đập của tim và huyết áp. Đặc biệt, với những người có sức khỏe và sức đề kháng yếu, việc nằm điều hòa ngay sau khi tắm rất dễ gây tai biến, ảnh hưởng xấu tới tính mạng.
Tắm khi cơ thể mệt mỏi

Thông thường, chúng ta thường cho rằng tắm khi đang mệt mỏi sẽ giúp cơ thể sảng khoái và tỉnh táo hơn. Điều này hoàn toàn sai lầm bởi khi mệt mỏi, khả năng tuần hoàn máu và lưu thông khí huyết giảm mạnh. Tắm, nhất là tắm nước lạnh có thể khiến bạn mệt mỏi hơn, bị cảm lạnh, choáng, bất tỉnh và thậm chí là tử vong đột ngột.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng không nên tắm xà phòng khi mệt mỏi bởi nó chứa nhiều kiềm mạnh, nếu xâm nhập vào da sẽ làm tăng cảm giác mệt mỏi. Cách tốt nhất là nghỉ ngơi để phục hồi sức lực rồi mới đi tắm nhé!


Tắm khi huyết áp thấp

Khi huyết áp thấp, nhiệt độ cơ thể cũng xuống thấp nên nhiều người chọn cách tắm nước nóng để làm ấm. Điều này vô cùng nguy hiểm bởi nhiệt độ nước cao hơn nhiệt độ cơ thể có thể gây shock đột ngột, làm các huyết quản giãn nở, dẫn tới hiện tượng não bộ không cung cấp máu kịp thời tới các bộ phận trên cơ thể, gây mệt mỏi, kiệt sức, thậm chí dẫn tới thiệt mạng.


Sau khi uống rượu bia

Rượu bia chứa nhiều chất kích thích, vì thế dễ làm ức chế hoạt động của gan, tiêu hao một lượng lớn chất glucose trong cơ thể. Tắm ngay sau khi uống rượu bia sẽ khiến đường huyết không được bổ sung kịp thời, làm cho huyết quản bị co vào, dẫn đến cảm lạnh. Nguy hiểm hơn, điều này còn có thể gây vỡ mạch máu, ảnh hưởng xấu đến tính mạng.


Tắm khi đang sốt

Khi nhiệt độ cơ thể ở mức 38 độ C trở lên, mức tiêu hao nhiệt lượng sẽ tăng khoảng 20%. Khi đó, nếu bạn tắm sẽ rất dễ bị cảm lạnh, khiến tình trạng sức khỏe và cơn sốt trở nên trầm trọng do sức đề kháng yếu. Thậm chí, điều này còn có thể dẫn tới đột quỵ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng.
Tắm trong lúc quá đói

Đói là lúc lượng đường trong máu đang bị hạ thấp. Bạn càng đói nghĩa là lượng đường thiếu hụt càng cao. Nếu tắm vào lúc này, cơ thể của chúng ta sẽ không có đủ năng lượng tiêu hao cần thiết. Nó dẫn đến tình trạng chóng mặt, choáng váng, ngất xỉu, thậm chí là đột quỵ.


Tắm ban đêm

Tắm đêm, cho dù bạn có sử dụng nước nóng để tắm cũng vẫn gây ra nhiều tác hại. Nó khiến các tĩnh mạnh giãn ra, huyết áp giảm. Đặc biệt, những người huyết áp thấp, huyết áp không ổn định còn có thể xuất hiện hiện tượng thiếu máu não nghiêm trọng, dẫn đến bất tỉnh, hôn mê, khả năng tử vong là rất cao.


Theo Trí Thức Trẻ





Hướng dẫn giữ ấm với 3 lớp áo ngay cả khi trời đổ tuyết.

Vào mùa Đông, khi vừa bước chân ra khỏi chiếc giường ấm áp thì điều đầu tiên khiến mọi người bối rối chính là câu hỏi "hôm nay sẽ mặc gì đây?" Mặc quá nhiều áo sẽ khó khăn cho hoạt động cả ngày lại không thời trang, còn nếu mặc ít lại sợ cảm lạnh.

Sau khi cập nhật thời tiết mấy ngày tới qua điện thoại, nhiều người than phiền rằng họ chỉ muốn mang hết đống quần áo trong tủ khoác lên người mà chẳng cần để ý xem chúng có đẹp hay không.

Tuy nhiên, trên thực tế, bọc ba lớp bên ngoài lại không ấm áp bằng việc bằng đúng cách để giữ ấm.

Chúng ta hãy nhìn vào nguyên tắc giữ ấm của quần áo một cách khoa học nhất. Quần áo có thể làm ấm cơ thể bằng cách giảm sự dẫn nhiệt. Điều này có nghĩa quần áo làm giảm sự xung đột đối lưu giữa không khí lạnh và không khí nóng, từ đó giữ được hơi ấm. Do vậy, muốn mặc ấm thì phải giảm thiểu truyền nhiệt.

Vậy trong vài ngày tới nên mặc thế nào cho ấm áp hơn? Các chuyên gia đã cung cấp một công thức mặc ấm: lớp bên trong mềm mại, nhẹ nhàng; lớp giữa giữ nhiệt và lớp ngoài thì chống gió. Mặc ấm theo công thức này cộng với việc giữ ấm cổ, đầu, tay và chân thì chúng ta có thể tồn tại dưới cả trời có tuyết.


Lớp đầu tiên: Lớp áo lót

Trong việc lựa chọn lớp đầu tiên của quần áo, có người thích lớp áo lót dày và cho rằng như vậy có thể giữ ấm tốt hơn. Thực ra, lớp áo lót quá dày không những khiến người mặc không thoải mái và còn làm tăng đối lưu không khí, từ đó làm giảm tính giữ nhiệt của quần áo.

Ngoài ra, không khí mùa Đông thường rất khô khiến làn da trở nên nhạy cảm hơn. Vì vậy, nên lựa chọn đồ lót mềm mại, không chứa chất liệu vải gây kích ứng.

Vì vậy, chuyên gia khuyên rằng nên chọn đồ lót được làm từ chất liệu cotton mỏng, mềm mại, vừa thấm mồ hôi lại vừa giữ ấm.


Lớp thứ hai: Áo len

Thông thường lớp áo giữa có nhiệm vụ là lớp giữ ấm, không có tiếp xúc trực tiếp với làn da của cơ thể. Vì vậy, nên chọn những chất liệu thấm mạnh như len cashmere hay chất liệu cotton.

Về kiểu dáng, quần áo ở lớp giữa phải có độ rộng vừa phải. Quần áo quá chật không giúp ích cho việc giữ ấm mà còn ảnh hưởng đến khả năng điều chỉnh thân nhiệt. Nếu quần áo rộng quá lại dẫn tới hiện tượng gió lùa, không khí lạnh tràn vào dẫn tới hiện tượng tản nhiệt, ảnh hưởng đến việc giữ ấm.

Đối với người già và những người có sức khỏe yếu thì nên mặc thêm một chiếc áo len gile.


Lớp thứ ba: Áo khoác

Việc giữ ấm của áo khoác chủ yếu đến từ chất liệu vải và lớp lót bên trong. Điều này rất dễ hiểu - sự liên kết sợi của chất liệu vải sẽ ảnh hưởng đến khả năng tránh gió; còn loại và độ dày của lớp lót bên trong sẽ ảnh hưởng đến khả năng giữ nhiệt.

Thông thường, độ liên kết sợi của chất liệu để làm áo lông vũ, áo phao và áo da tương đối dày nên khả năng chống gió rất tốt. Tuy nhiên, lớp lót của áo da lại không được dày nên khả năng giữ ấm kém hơn.

Lông vũ và bông trong áo lông vũ và áo phao thường được lót nhẹ nhàng, không quá dày, hút không khí để có thể tạo ra một tầng bảo vệ giữ nhiệt vì vậy nên chúng giữ nhiệt tốt hơn.

Áo dạ thông thường được làm từ chất liệu bao gồm len và sợi tự nhiên khác như polyester, rayon và sự pha trộn sợi tổng hợp khác, lớp lót mỏng, hiệu suất giữ nhiệt yếu ớt.