Showing posts with label kỹ thuật. Show all posts

Nga thử nghiệm thành công động cơ lượng tử, tốc độ 1.000km/giây.

Các chuyên gia nghiên cứu của Nga đã thử nghiệm thành công một loại động cơ mà chỉ mới vài năm trước đây thôi chỉ có trong khoa học viễn tưởng.

Đó là động cơ lượng tử, hay còn được gọi bằng một tên khác là động cơ phản hấp dẫn, có tác động vô hiệu hóa trọng lực của các vật thể như xe tăng, máy bay, tàu chiến v.v. và tạo khả năng chế tạo các phương tiện vận tải chuyển động nhanh gấp hàng ngàn lần so với hiện nay!

Tiến sỹ Vladimir Leonov, người từng đoạt Giải thưởng Quốc gia của Chính phủ Nga, người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về Lý thuyết siêu liên kết, cho biết:

"Mẫu thử nghiệm thành công của người Nga về động cơ lượng tử có hiệu suất mạnh gấp 5.000 lần động cơ tên lửa thông thường, sẽ tạo ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trong thế kỷ 21, tương tự cuộc cách mạng công nghệ thông tin trong thế kỷ 20".

Xe tăng lắp động cơ lượng tử.

Thành tựu kỹ thuật này là kết quả vận dụng một lý thuyết khoa học cơ bản hiện đại, được gọi là Lý thuyết siêu liên kết do các nhà khoa học Nga xây dựng nên, đưa nước Nga vào vị thế hàng đầu trong lĩnh vực khoa học cơ bản của thế giới.

Tiến sỹ Vladimir Leonov cho biết, động cơ lượng tử không cần bộ phận truyền động để dẫn động bánh xe, cũng không cần các bộ phận như vòng bi, nhưng vẫn chuyển động được theo phương nằm ngang hoặc cất cánh thẳng đứng nhờ nội lực bên trong.

Động cơ lượng tử được các nhà khoa học Nga thử nghiệm thành công năm 2009. Đến năm 2014, người Nga đã thử nghiệm thành công động cơ có trọng lượng 54kg nhưng tạo ra lực đẩy theo phương thẳng đứng với xung lực có cường độ 500-700kg lực với năng lượng điện tiêu thụ chỉ bằng 1kw.

Với động cơ này, các nhà khoa học Nga đã chế tạo thành công khí tài bay chuyển động với gia tốc lớn gấp 10-12 gia tốc trọng trường (chuyển động rơi tự do), nghĩa là lớn gấp 10-12 lần tốc độ rơi tự do của các vật thể trên bề mặt Trái Đất.

1000 km/giây!

Theo nhận định của Tiến sỹ Vladimir Leonov, các động cơ tên lửa thông thường hiện nay đã đạt tới khả năng giới hạn của kỹ thuật.

Sau 50 năm phát triển, xung lực động cơ tên lửa chỉ có thể tăng từ 220 giây (tên lửa Faw-2 của Đức trong Thế chiến 2) lên tới 450 giây (trong động cơ tên lửa Proton của Nga). Còn xung lực động cơ lượng tử đã đạt tới hàng chục triệu giây.

Vì thế, động cơ tên lửa thông thường có trọng lượng 100 tấn chỉ chở được tải trọng có ích khoảng 5 tấn (hiệu suất 5%), còn động cơ lượng tử 100 tấn có thể mang được 90 tấn hàng. Như vậy, so hiệu suất của động cơ tên lửa thông thường, hiệu suất của động cơ lượng tử tăng 900%!

Về tốc độ, động cơ lượng tử có thể đưa khí tài bay chuyển động với tốc độ 1000 km/giây, trong khi tốc độ tên lửa thông thường chỉ đạt tới mức tối đa 18km/giây.

Vì thế, về mặt lý thuyết, với động cơ lượng tử, khí tài bay có thể bay từ Trái Đât lên Sao Hỏa trong vòng 42 giờ, tới Mặt Trăng-3,6 giờ.

Tiến sỹ Vladimir Leonov.

Với động cơ lượng tử, người Nga lại một lần nữa di đầu trong cuộc chính phục và khám phá vũ trụ, mở ra một kỷ nguyên mới du hành giữa các vì sao.

Năng lượng để cung cấp cho động cơ lượng tử được tạo ra từ phản ứng tổng hợp nhiệt hạch lạnh với hiệu suất lớn gấp 1.000.000 lần so với động cơ thông thường sử dụng năng lượng hóa học.

Kỹ sư người Italia, ông Andrea Rossi, là người đầu tiên thử nghiệm thành công phản ứng tổng hợp nhiệt hạch lạnh, sau đó các nhà khoa học Nga cũng đã làm chủ được công nghệ này.

Theo Tiến sỹ Vladimir Leonov, 1 kg chất nikel làm nguyên liệu dùng trong phản ứng tổng hợp nhiệt hạch lạnh có thể tạo ra năng lượng sử dụng tương đương 1.000.000 kg xăng!

Sắp tới đây, các máy bay được lắp động cơ chạy bằng năng lượng tổng hợp nhiệt hạch lạnh có điều khiển sử dụng trong động cơ lượng tử, có thể bay từ Moscow tới New York chỉ mất 1 giờ thay vì 10 giờ như hiện nay.

Cũng theo Tiến sỹ Tiến sỹ Vladimir Leonov, các khí tài bay được lắp động cơ lượng tử có thể chuyển động trong tất cả các môi trường: đường không-vũ trụ, dưới biển, trên biển và trên mặt đất.


Theo Infonet/NhatbaoVN





Máy chế biến nước thành bia tại nhà.

Các quý ông sẽ không phải đi đâu xa trong mùa hè nóng nực này. Họ có thể thưởng thức cốc bia lạnh ngay tại nhà nhờ chiếc máy làm bia Beer Bar của công ty SodaStream Interntional.


Theo công ty có trụ sở tại Israel này, máy cho phép người dùng có thể biến nước sô-đa thành bia nhờ một công thức làm bia đặc biệt có tên "Blondie". Thành phẩm có nồng độ cồn 4,5% và có hương vị y hệt các loại bia mà người dùng vẫn hay mua ở siêu thị.

Trong video dưới đây, SodaStream Interntional trình diễn cách thức biến nước máy thành nước có ga và từ đó dùng để chế tạo bia.



Tuy nhiên, ngay cả khi hệ thống này có hoạt động như quảng cáo thì vẫn không có gì đảm bảo nó sẽ là một cỗ máy "thần kỳ" mà bất cứ tín đồ nghiện bia nào đều tìm đến. Ngoài chuyện uống bia, không gian thưởng thức cũng là điều quan trọng. Đó cũng là lý do tại sao ít đàn ông nào chịu uống bia tại nhà mà lại ra ngoài quán.

Hiện tại, chiếc máy làm bia Beer Bar chỉ được bán tại Đức và Switzerland. Cuối năm nay và đầu năm tới, công ty SodaStream Interntional mới bắt đầu mở rộng thị trường bán lẻ.


Theo Vietnamnet


Người dân Bangladesh lắp hệ thống điều hòa không dùng điện, giảm được 5 độ so với ngoài trời.

Mình rất thích các bài viết như thế này, nhưng ứng dụng đơn giản nhưng hiệu quả vào cuộc sống, và trong hoàn cảnh khó khăn con người luôn sáng tạo tuyệt vời hoặc của những người tuyệt vời luôn sáng tạo để giúp đỡ người khác.

Sống ở mức nghèo khổ, nhiệt độ ngày hè ở Bangladesh có thể lên để 45 độ C, mới đây một giải pháp điều hòa không dùng điện đang gây được chú ý tại đất nước này.

Tương tự như Ấn Độ, người dân Bangladesh sống tại khu vực nông thôn thường làm nhà bằng tôn, chất liệu dẫn nhiệt này là một trở ngại tại quốc gia nhiệt đới với thời gian nắng nóng có phần gay gắt hơn cả tại TP.HCM.

Người dân Bangladesh lắp hệ thống điều hòa không dùng điện, giảm được 5 độ so với ngoài trời.
Người dân Bangladesh đang lắp điều hòa Eco-Cooler

Vì sao con người có thể xem phim 7D dù thế giới mới chỉ có chiều không gian thứ 4?

Liệu bạn có từng thắc mắc, xem phim 3D, 4D, 5D tuyệt hay nhưng chữ "D" trong các phim này có khác gì so với các chiều không gian của vật lý?

Những bộ phim 2D đã trở nên quá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày khi bạn có thể xem chúng ở tivi, điện thoại, máy tính, rạp chiếu phim... Cho tới khoảng năm 2009, những bộ phim gắn mác công nghệ 3D bắt đầu được áp dụng rộng rãi và đã tạo nên một hiện tượng mới trong lĩnh vực điện ảnh vào khoảng thời gian này.

Chữ "D" ở đây được hiểu là Dimension - nghĩa là chiều không gian. Chúng ta có 3 chiều không gian: chiều ngang, chiều dọc và chiều sâu.

Đặc biệt, thiên tài vật lý học Einstein còn cho rằng, thế giới có chiều không gian thứ 4 - thời gian. Trong đó, mỗi phút giây mà ta trải qua là một biến thể của ta, 5 giây trước, 5 phút trước và thậm chí 5 năm trước, tất cả vẫn đều là ta nhưng chính lại là một biến thể thời gian khác của ta. Thời gian mà chúng ta đang và sẽ trải qua chính là chiều không gian thứ tư.


Tuy nhiên, chiều không gian thứ 4 đến nay vẫn còn là một bí ẩn, vì theo như Einstein, chỉ cần lọt vào chiều không gian này chúng ta có thể kiểm soát được "không thời gian", biến chuyện du hành đến những hành tinh xa xôi trong vũ trụ thành chuyện nhỏ.

Ưu điểm của lập trình Multi-core

Đây là bài viết mà trong đó chúng tôi đã giới thiệu về ưu thế của các phần mềm trong việc sử dụng hệ thống đa lõi. Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu sâu hơn về thế giới multithread (tạm dịch là thế giới đa luồng) và đi vào xem xét một số cách có thể khắc phục các vấn đề khó khăn trong việc phát triển ứng dụng chạy trên nền tảng đa lõi.



J2EE

Công nghệ ứng dụng là thứ mà có lẽ một số bạn có thể đã biết đó là J2EE, J2EE là một môi trường được sử dụng để xây dựng các ứng dụng mức doanh nghiệp. Các ứng dụng được xây dựng trên công nghệ J2EE có thể tận dụng nhiều lợi thế trong việc sử dụng các CPU đa lõi.

Việc sử dụng J2EE cho các ứng dụng doanh nghiệp sẽ cho phép các chuyên gia phát triển viết mã ứng dụng mà không cần đến các kiến thức chi tiết sâu về thread; đây quả thực là sức mạnh thực sự nằm phía sau J2EE. Các ứng dụng J2EE được chuyển đổi thành multithread bằng cách thay đổi các thiết lập có trong máy chủ ứng dụng; việc thực hiện multithread được quản lý bởi một mục (container). Vậy cách thức thực hiện như thế nào. Về cơ bản, sự logic doanh nghiệp có thể được viết mã và sau đó được phát triển vào máy chủ trong một mục logic. Sau đó các thiết lập cũng có thể phân định số lượng bao nhiêu các trường hợp phần logic doanh nghiệp có thể được chạy. Mục cũng có thể phân định các kết nối đến các tài nguyên chẳng hạn như cơ sở dữ liệu có thể được sử dụng một lần. Các thuộc tính được quản lý bởi các mục này hoàn toàn tách biệt với việc multithread đối với mã ứng dụng. Đây là một dấu hiệu tốt vì nó cho phép việc multithread có thể được điều chỉnh dựa trên phần cứng của ứng dụng đang chạy mà không cần thay đổi mã ứng dụng. Điều này thích hợp với phần cứng khối doanh nghiệp; các máy tính có thể được bổ sung vào cụm các máy chủ (server cluster), hoặc có lẽ các bộ vi xử lý có thể được bổ sung hoặc được tách bớt từ các máy tính đang tồn tại trên cụm, mỗi một sự thay đổi này đều ảnh hưởng đến khả năng multi-thread của các ứng dụng dang chạy trên phần cứng.

OpenMP

Việc nhớ rằng multithread logic hoàn toàn tách biệt với logic doanh nghiệp sẽ là một mục tiêu chính cho các chuyên gia phát triển phần mềm viết các ứng dụng song song. Có nhiều lý do cho vấn đề này; dễ dàng cho việc phát triển, dễ dàng cho việc gỡ rối và dễ dàng thay đổi ứng dụng. Khi một chuyên gia phát triển phần mềm đang phát triển một ứng dụng trong C/C++ hoặc FORTRAN thì một thực thi phổ biến được sử dụng cho quá trình này đó là OpenMP. OpenMP là một API được sử dụng để viết mã ứng dụng đa luồng một cách hiệu quả và thiết thực.

Về bản chất, OpenMP được sử dụng bởi việc nhóm một tập các chỉ lệnh trong mã dưới dạng các comment hoặc các annotation (chú thích). Mã được viết và sau đó các chú thích được bổ sung vào các vị trí thích hợp sau đó. Khi mã đã được biên dịch với bộ biên dịch OpenMP thích hợp, các chú thích sẽ được đọc và mã được biên dịch theo cách như vậy để tạo sử dụng cho các thread trực tiếp bởi các chú thích.

Phương pháp lập trình song song này rất có nhiều ưu điểm. Do một chương trình được viết mã để có thể chạy tuần tự và các chú thích chỉ đơn thuần là các comment của mã khi đó nếu mã được biên dịch trong một bộ biên dịch thông thường thì bộ biên dịch này sẽ bỏ qua các chú thích OpenMP. Mã này sau đó sẽ được biên dịch với bộ biên dịch OpenMP và chạy đa luồng một cách song song. Điều này có nghĩa rằng các chuyên gia phát triển sẽ không phải thay đổi mã nếu chương trình được chạy trong hai kiến trúc phần cứng khác nhau: một cho đa luồng và một không cho đa luồng.

Một ưu điểm khác của OpenMP là phần mã đó có thể được chú thích gia tăng với nhiều mã. Điều đó cho phép việc kiểm tra dễ dàng hơn trong việc bảo đảm đúng chức năng mã. Vấn đề này cũng rất có ý nghĩa vì các chuyên gia phát triển có thể xử lý đa luồng nhiều phần mã để sau đó sử dụng kết quả trong một thực thi khác; tuy nhiên điều này rất khó để có thể kiểm tra bởi một bộ biên dịch vì vậy cần phải được kiểm tra thông qua việc kiểm thử.

Ví dụ về một luồng ứng dụng sử dụng multithread

Những nguy hiểm của Multithread

Một trong những lỗi hay gặp nhất được tạo ra bởi các chuyên gia phát triển khi thiết kế đa luồng các ứng dụng của họ là việc xử lý các vòng lặp. Cho ví dụ, nếu một ai đó muốn lặp lại toàn bộ một mảng các số nguyên và chỉ bố sung một cách đơn giản vào mỗi giá trị đó thì điều này có thể được xử lý đa luồng để thực hiện mỗi hành động lặp trong thread của chính nó tại cùng một thời điểm. OpenMP sẽ thực hiện điều này (trong C/C++) bởi chú thích #pragma omp parallel for. Tuy nhiên nếu ai đó muốn lặp lại một mảng tương tự đó nhưng thay đổi mỗi giá trị bằng cách thêm vào giá trị của thành phần trước thì trong trường hợp này sẽ gặp phải một lỗi tróng xử lý đa luồng vòng lặp này; nếu tất cả các lần lặp của vòng lặp xuất hiện một cách đồng thời thì bạn không thể bảo đảm rằng thành phần trước đó đã được thay đổi để có thể chứa đựng giá trị mới. Việc chạy một vòng lặp như vậy trong quá trình xử lý đa luồng sẽ tạo ra một mảng số nguyên khác.

Một lỗi khác nữa cũng hay xảy ra đó là với các biến được sử dụng bởi quá trình xử lý đa luồng đồng thời. OpenMP về cơ bản được sử dụng cho các chương trình chạy trong chế độ bộ nhớ chia sẻ và chính vì vậy yêu cầu các chuyên gia phát triển phải bảo đảm rằng các luồng này không làm thay đổi các biến được sử dụng bởi các luồng khác. Tuy nhiên trong trường hợp này, OpenMP lại có các chú thích được hỗ trợ để bảo đảm cho điều đó không xảy ra bên trong một khối mã xử lý đa luồng nào đó. Tuy nhiên các chuyên gia vẫn phải tìm hiểu về điều này để sử dụng đúng các chú thích ở nơi cần thiết.

Hiệu suất

Khi được thực hiện một cách cẩn thận, việc xử lý các ứng dụng đa luồng có thể làm tăng hiệu suất một cách đáng kể. Rõ ràng để thực hiện điều này thì bạn phải chạy trên các phần cứng có hỗ trợ cho việc xử lý đa luồng. Tuy nhiên khi thực hiện với phần cứng thích hợp thì cũng vẫn có một số hạn chế nhất định đối với việc xử lý này, chẳng hạn như có các khối mã không thể xử lý đa luồng. Nhiều phần mã không thể được thực thi đa luồng sẽ làm tăng gian thực thi của các phần mã đó và từ đó sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu suất của toàn bộ chương trình.

Mặc dù vậy nhưng có rất nhiều ưu điểm mang lại cho hiệu suất thực thi để thực hiện chạy một ứng dụng đa luồng trên các CPU đa lõi đó là có thêm nhiều bộ nhớ cho ứng dụng. Cho ví dụ, bộ vi xử lý Tile64 của Tilera đã được giới thiệu đến trong bài về CPU đa lỗi có chứa một cache logic L3. Trong nhiều trường hợp, cách thức xử lý này sẽ tăng được hiệu suất sử dụng bộ nhớ cache một cách đáng kể, từ đó giảm được thời gian bộ nhớ cần đến trong việc đọc và làm tăng hiệu suất thực thi.


Theo WindowsNetworking



Thuyết hỗn loạn (chaos theory) - Hiệu ứng con bướm


Bất chấp hàng loạt lý thuyết ra đời trong thế kỷ 20 dẫn tới những cuộc cách mạng đảo lộn vũ trụ quan cổ điển, đến nay tư tưởng chủ đạo của khoa học vẫn là chủ nghĩa tất định (determinism) – tư tưởng cho rằng vũ trụ vận hành theo những quy luật xác định và do đó, về nguyên tắc, khoa học phải dự báo được tương lai một cách chính xác.

Nhưng thực ra Tự Nhiên phức tạp, hỗn độn (chaotic) và khó dự đoán hơn ta tưởng rất nhiều: Tính ngẫu nhiên và bất định không chỉ tác động trong thế giới lượng tử, mà ngay cả trong những hệ phức tạp (complex systems) của thế giới vĩ mô. Bản chất bất định và hỗn độn của Tự Nhiên đã được Lý thuyết hỗn độn (Theory of Chaos) mô tả một cách ẩn dụ bởi “Hiệu ứng con bướm” (Butterfly Effect): “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể dẫn tới hậu quả là một cơn bão ở Florida một tháng sau đó”(1).

Lý thuyết hỗn độn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi vì người ta khám phá ra rằng có rất nhiều hệ phức tạp trong tự nhiên và xã hội chịu sự tác động của “hiệu ứng con bướm”: Từ cơ học thiên thể cho tới các chương trình computers, vấn đề dự báo thời tiết, vấn đề môi trường toàn cầu, hệ thống mạch điện, hiện tượng bùng nổ dịch bệnh, bùng nổ dân số, khủng hoảng kinh tế, vấn đề hoạch định chính sách, v.v.

Tuy phải đợi tới những năm 1960 thì hiện tượng hỗn độn mới được nghiên cứu thành những lý thuyết hệ thống, nhưng thực ra nó đã được khám phá lần đầu tiên từ cuối thế kỷ 19 bởi nhà toán học lừng danh Henri Poincaré – người được gọi là “Mozart của toán học” và là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại.

1. Henri Poincaré và “bài toán ba vật thể”:

“Bài toán ba vật thể” (Three body problem) do Isaac Newton nêu lên từ năm 1687 trong tác phẩm Principia (Nguyên lý) nhằm nghiên cứu chuyển đông của các thiên thể trong mối quan hệ tương tác hấp dẫn giữa chúng:

"Hãy xác định vị trí của 3 vật thể chuyển động trong không gian nếu biết vị trí ban đầu của chúng."

Thoạt nghe, bài toán có vẻ khá đơn giản, nhưng thực ra lại phức tạp và khó đến mức thách thức những bộ óc siêu việt nhất của nhân loại.

Các nhà toán học vĩ đại như Euler, Lagrange, … đã từng lao vào giải, nhưng chỉ tìm được lời giải cho những trường hợp đặc biệt. Đến cuối thế kỷ 19 vẫn chưa có ai tìm được lời giải cho trường hợp tổng quát với n vật thể.

Năm 1887, nhà toán học Gosta Mittag Leffler đã kiến nghị với vua Thụy Điển và Na-uy lúc đó là Oscar II nên mở cuộc thi giải “bài toán ba vật thể” dưới dạng tổng quát để mừng sinh nhật lần thứ 60 của chính nhà vua vào năm 1889. Vua Oscar II chuẩn y và ban bố cuộc thi: Số tiền thưởng không lớn lắm (chỉ bằng khoảng một nửa tiền lương hàng năm của một viện sĩ hàn lâm), nhưng danh dự rất lớn – người thắng cuộc sẽ được coi là người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất!

Nhà toán học Pháp Henri Poincaré, lúc ấy 33 tuổi, đang nổi lên như một trong những ngôi sao sáng nhất trên bầu trời toán học, đã mất tới 3 năm trời để giải bài toán, để rồi gửi tới hội đồng giám khảo một lời giải dài dòng và phức tạp đến nỗi hội đồng này không hiểu. Họ đề nghị ông giải thích. Poincaré liền gửi tới hội đồng một bản bình luận tiếp theo dài tới 100 trang để giải thích lời giải của ông. Sau khi hiểu được lời giải, hội đồng giám khảo quyết định trao tặng giải thưởng cho Poincaré. Đó là một sự kiện khoa học gây chấn động dư luận cuối thế kỷ 19.

Nhưng dư luận còn bị chấn động hơn nữa khi lời giải được công bố chính thức trên tạp chí Acta Mathematica (một trong những tạp chí uy tín nhất thời đó), bởi lẽ trong lời giải mới này, Poincaré đã chỉ ra sai lầm của chính ông trong lời giải đã đoạt giải thưởng trước đó:

Đó là một sai lầm về hình học – trong số các trường hợp hình học có thể xẩy ra, ông đã bỏ sót một trường hợp mà ông nghĩ rằng không quan trọng.

May mắn làm sao, và thú vị làm sao, khi nghiên cứu lại lời giải để gửi tới tạp chí, ông đã phát hiện ra trường hợp bị bỏ sót này. Càng nghiên cứu kỹ ông càng nhận thấy trường hợp bị bỏ sót này hoá ra lại quan trọng và thú vị hơn rất nhiều so với ông tưởng, bởi nó dẫn tới một kiểu chuyển động vô cùng phức tạp và kỳ lạ: Một trong các vật thể có xu hướng chuyển động hầu như ngẫu nhiên (không tuân theo một hướng xác định nào cả).

Đó là điều không thể tin được và cũng không thể hiểu được, vì hệ phương trình do ông thiết lập để giải bài toán là một hệ xác định, và do đó kết quả phải xác định, không thể là ngẫu nhiên. Nhưng trước một lời giải tự nó nói lên một sự thật khác thường, Poincaré nhận thấy một điều vô cùng quan trọng mà trước đó chưa ai nhận thấy: Nếu kết quả không phải là ngẫu nhiên thì ít nhất nó cũng không có một cấu trúc rõ ràng!

Poincaré dừng lại bài toán ở chỗ đó, rồi thốt lên: “Tôi không biết phải làm gì với kết quả này” (I don’t know what to do with this).

Lúc Poincaré dừng lại chính là lúc ông đã vô tình khép lại cánh cửa của Chủ nghĩa tất định và mở ra cánh cửa của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù phải chờ tới năm 1963 thì Lý thuyết hỗn độn mới chính thức bước lên diễn đàn khoa học, nhờ khám phá ngẫu nhiên của nhà khí tượng học Edward Lorenz

2. Khám phá ngẫu nhiên của Edward Lorenz:

Năm 1961, nhà khí tượng học Edward Lorenz đã thiết lập một hệ phương trình toán học để mô tả một dòng không khí chuyển động, lúc dâng cao, lúc hạ thấp tuỳ theo mức độ bị đốt nóng bởi ánh nắng mặt trời.

Sau đó ông mã hoá hệ phương trình này để tạo ra một chương trình chạy trên computer, nhằm nghiên cứu một mô hình dự báo thời tiết.

Vì chương trình viết cho computer bao gồm những phương trình toán học và những mã lệnh hoàn toàn xác định nên Lorenz nghĩ rằng trong những lần chạy thử chương trình trên máy, nếu “input” (dữ liệu đầu vào của chương trình) hoàn toàn giống nhau thì đương nhiên “output” (kết quả ở đầu ra) cũng phải hoàn toàn giống nhau.

Nhưng một lần, sau khi nạp vào chương trình những dữ liệu ban đầu mà ông nghĩ rằng giống hệt như những lần trước, rồi sau đó cho chương trình chạy thử, ông sững sờ ngạc nhiên khi thấy kết quả ở đầu ra hoàn toàn khác biệt – khác một cách nghiêm trọng so với những lần chạy trước đó.

Kiểm tra lại toàn bộ hoạt động của computer một cách kỹ càng, từ phần cứng tới phần mềm, Lorenz không tìm thấy bất cứ một sai sót nào, ngoài một chi tiết mà trước đó ông tưởng là một sai lệch không đáng kể: Đó là một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506.

Theo quán tính tư duy khoa học trước đó, một sai lệch vô cùng nhỏ ở đầu vào sẽ không có ảnh hưởng gì đáng kể ở đầu ra. Quán tính tư duy này sẽ đúng nếu đối tượng khảo sát chưa đạt tới mức độ đủ phức tạp. Nhưng hệ thống dự báo thời tiết là một hệ thống phức tạp, nên quán tính tư duy nói trên không còn đúng nữa.

Thật vậy, trực giác đã mách bảo Lorenz rằng một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ liệu ở đầu vào của chương trình dự báo thời tiết của ông có thể dẫn tới một sai lệch khổng lồ ở kết quả đầu ra. Ông lập tức tiến hành nhiều thử nghiệm tương tự để đi tới khẳng định kết luận của mình, rồi công bố khám phá trên các tạp chí khoa học. Một loạt các nhà khoa học khác trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau lập tức tiến hành những thử nghiệm tương tự, và cuối cùng đều đi tới chỗ xác nhận quan điểm của Lorenz. Từ đó, Lý thuyết hỗn độn chính thức bước lên diễn đàn khoa học.

Năm 1975, Benoit Maldenbrot cho ra đời cuốn “The Fractal Geometry of Nature” (Hình học fractal của Tự Nhiên), được đánh giá là một lý thuyết kinh điển về hỗn độn.

Tháng 12 năm 1977, Viện hàn lâm khoa học New York (New York Academy of Sciences) lần đầu tiên tổ chức hội nghị về lý thuyết hỗn độn, tập hợp các nhà nghiên cứu lý thuyết hỗn độn xuất sắc nhất trên toàn thế giới, như:
  • David Ruelle, nhà toán học-vật lý người Bỉ-Pháp, chuyên về vật lý thống kê và các hệ động học,
  • Robert May, nguyên chủ tịch Hội hoàng gia Anh, giáo sư Đại học Sydney và Đại học Princeton, chuyên áp dụng lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu bệnh dịch và tính đa dạng của các quần thể sinh học phức tạp,
  • James York, chủ nhiệm khoa toán thuộc Đại học Marryland ở Mỹ là người đầu tiên gieo thuật ngữ “chaos” (hỗ độn) vào trong thế giới toán học và vật lý,
  • Robert Shaw, nhà vật lý Mỹ đã áp dụng Lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu các kết quả ở đầu ra của máy quay roulette tại các sòng bạc, ….
Chính trong bối cảnh khám phá ra hàng loạt hiện tượng hỗn độn trong các hệ phức tạp của Tự Nhiên và xã hội, các nhà khoa học mới nhận ra rằng ngay từ hơn 60 năm trước, chính Henri Poincaré đã là người đầu tiên khám phá ra bản chất hỗn độn của các hệ phức tạp khi ông giải “bài toán n vật thể”: Thay vì chứng minh tính ổn định động học của hệ n vật thể, ông đã khám phá ra tính bất ổn định của các hệ động lực học phức tạp. Ngay nay khoa học đã biết rằng tính bất ổn định này xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu.

3. Tính bất định của các phép đo:

Một trong những nguyên lý cơ bản của khoa học thực nghiệm là ở chỗ không có một phép đo nào trong thực tế có thể đạt tới độ chính xác tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là các phép đo phải chấp nhận một mức độ bất định nào đó. Dù cho công cụ đo lường có hoàn hảo đến mấy thì mức độ chính xác cũng chỉ đạt tới một giới hạn nhất định. Về lý thuyết, muốn đạt tới độ chính xác tuyệt đối thì công cụ đo lường phải đưa ra những con số có vô hạn chữ số. Điều này là bất khả.

Nhưng người ta cho rằng sử dụng những công cụ đo lường hoàn hảo hơn, có thể giảm thiểu tính bất định xuống tới một mức độ nào đó có thể chấp nhận được, tùy theo mục tiêu của bài toán, mặc dù về nguyên tắc, không bao giờ triệt tiêu được tính bất định đó.

Khi nghiên cứu chuyển động của các vật thể dựa trên các định luật của Newton, tính bất định trong các dữ kiện ban đầu được coi là khá nhỏ, không ảnh hưởng tới kết quả dự đoán xẩy ra trong tương lai hoặc quá khứ.

Quả thật, dựa trên các định luật của Newton, Urbain Le Verrier đã tiên đoán chính xác sự tồn tại của hành tinh Neptune (Hải vương tinh). Những sự kiện tương tự như thế đã làm nức lòng người, củng cố niềm tin vào Chủ nghĩa tất định: Vũ trụ vận hành giống như một “chiếc đồng hồ Newton” (Newtonian clock), và do đó có thể dự báo tương lai một cách chính xác.

Nếu xuất hiện kết quả bất định trong các hệ động học, thì chắc chắn nguyên nhân xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu, thay vì các phương trình chuyển động, bởi vì các phương trình này là hoàn toàn xác định. Và từ lâu người ta đã cho rằng nếu giảm thiểu đến mức tối đa tính bất định trong các phép đo thì con người sẽ có thể đưa ra những dự báo chính xác đến mức tối đa.

Nhưng Chủ nghĩa tất định đã lầm: Những hệ động học phức tạp mang tính bất ổn định ngay từ trong bản chất của chúng.

4. Tính bất ổn định động lực học:

Trong “Bài toán n vật thể”, hệ phương trình chuyển động của các vật thể do Poincaré thiết lập hoàn toàn dựa trên các định luật Newton, và do đó là hoàn toàn xác định. Cụ thể, nếu biết vị trí, tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước, hoàn toàn có thể xác định được vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm khác trong tương lai hoặc quá khứ.

Nhưng vì không thể xác định vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước một cách chính xác tuyệt đối nên luôn luôn tồn tại một mức độ thiếu chính xác nào đó trong các dự báo thiên văn dựa trên các định luật Newton.

Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm kể từ khi các định luật Newton ra đời cho đến trước khi lời giải “Bài toán n vật thể” của Poincaré được công bố chính thức, trong giới vật lý và thiên văn đã tồn tại một “thoả thuận ngầm”: Sự thiếu chính xác tuyệt đối trong các dự báo thiên văn là một vấn đề nhỏ, bởi vì với tiến bộ không ngừng của công nghệ đo lường, sự thiếu chính xác này sẽ được giảm thiếu đến mức tối đa. Nói cách khác, người ta đã ngầm hiểu rằng giảm thiểu tính bất định của dữ kiện ban đầu thì cũng giảm thiểu tính bất định trong kết quả dự đoán.

Tiến sĩ Matthew Trump tại Trung Tâm Ilya Prigorine tại Đại học Texas ở Austin gọi đó là quy luật “srhink-shrink” (giảm-giảm). Nhưng Poincaré đã tạo nên một cú shock khi chỉ ra rằng quy luật đó không còn đúng đối với những hệ thiên văn phức tạp!

Xin độc giả đọc kỹ ý kiến của Matthew Trump như sau:

"Những hệ thiên văn điển hình không tuân thủ quy luật nói trên là hệ chứa ba hoặc nhiều hơn ba vật thể có quan hệ tương tác lẫn nhau. Poincaré chỉ ra rằng đối với những hệ loại này, một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu sẽ lớn dần lên theo thời gian với một tỷ lệ khổng lồ."

Do đó đối với cùng một hệ chuyển động, hai tập hợp dữ kiện ban đầu hầu như không phân biệt có thể dẫn tới hai dự đoán kết quả khác nhau một trời một vực.

Poincaré đã chứng minh một cách toán học rằng hiện tượng “bùng nổ” của những bất định vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu thành những bất định khổng lồ trong kết quả dự đoán sẽ vẫn tiếp tục xẩy ra ngay cả khi những bất định ban đầu được thu nhỏ tới kích thước nhỏ nhất có thể tưởng tượng được.

Nghĩa là, đối với những hệ này, dù cho bạn có thể thực hiện những phép đo dữ kiện ban đầu chính xác hơn tới hàng trăm hay hàng triệu lần hoặc hơn thế nữa, thì muộn hơn hay sớm hơn, tính bất định trong kết quả không hề giảm đi, mà vẫn vô cùng lớn.

Những phân tích toán học của Poincaré thực chất đã chứng minh rằng đối với những “hệ phức tạp”, muốn có một dự đoán kết quả chính xác ở bất kỳ cấp độ nào cũng đòi hỏi phải xác định được dữ kiện ban đầu với độ chính xác tuyệt đối. "Nhưng điều đó là BẤT KHẢ (impossible)!"

Matthew Trump viết tiếp:
"Tính chất cực kỳ nhậy cảm của dữ kiện ban đầu được trình bầy một cách toán học trong những hệ thống được nghiên cứu bởi Poincaré được gọi là tính bất ổn định động lực học (dynamical instability), hoặc đơn giản là “hỗn độn” (chaos)."

Đó là lý do vì sao Henri Poincaré được coi là cha đẻ của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù mãi đến những năm 1960, lý thuyết này mới thành hình.

Theo Matthew Trump:
"Mặc dù công trình của Poincaré được một số nhà vật lý nhìn xa trông rộng đương thời đánh giá là vô cùng quan trọng, nhiều thế kỷ đã trôi qua trước khi những ẩn ý trong các khám phá của ông được toàn thể cộng đồng khoa học hiểu rõ. Một trong các lý do của sự chậm trễ này là vì phần lớn các nhà vật lý thời đó đang lao vào một lĩnh vực mới mẻ của vật lý, đó là Cơ học lượng tử – lĩnh vực vật lý thâm nhập vào vương quốc hạ nguyên tử."

Nhưng hiện nay, chính các nhà vật lý đang quan tâm tới Lý thuyết hỗn độn hơn ai hết.

5. Biểu hiện của hỗn độn trong Tự nhiên:

Hệ thống thời tiết là một hệ phức tạp điển hình, ở đó bộc lộ rất rõ đặc trưng hỗn độn, như độc giả đã thấy phần nào qua câu chuyện về khám phá của Edward Lorenz năm 1961.

Matthew Trump cho biết:
"Thuật ngữ “Hiệu ứng con bướm” ra đời chính từ khoa học dự báo thời tiết: Một cái vỗ cánh của một con bướm ở một nơi nào đó trên trái đất có thể dẫn tới một cơn bão ở một nơi nào khác trên thế giới một năm sau đó."

Với hiệu ứng đó, hiện nay người ta buộc phải chấp nhận rằng việc dự báo thời tiết chỉ đạt được mức độ chính xác tương đối và ngắn hạn. Dù cho được trang bị những computer thông minh bậc nhất, khoa học dự báo thời tiết vẫn luôn luôn không tốt gì hơn những phỏng đoán.

Vậy nếu chúng ta thấy những dự báo thời tiết thiếu chính xác hoặc thậm chí sai hoàn toàn với thực tế, có lẽ cũng không nên dễ dàng trách móc các nhà khoa học làm dự báo, mà hãy “đổ tội” cho cái bản chất hỗn độn của những hệ phức tạp trong Tự nhiên.

Robert May (đã nhắc tới ở mục 2.), cho biết:
"Trong lĩnh vực nghiên cứu quần thể sinh học còn có những thí dụ phức tạp rắm rối hơn rất nhiều. Chẳng hạn tôi có thể chỉ ra những thí dụ về quần thể ruồi dấm hoặc quần thể bọ chét dưới nước mà tôi nuôi dưỡng chúng trong phòng thí nghiệm. Bạn không thể nào tiên đoán được mức độ tăng trưởng của chúng trong một số tình huống nhất định. Dưới điều kiện nhiệt độ và sinh trưởng nào đó, chúng phát triển đều đặn và hoàn toàn có thể tiên đoán được, giống như động học Newton cổ điển vậy. Nhưng dưới điều kiện nhiệt độ và/hoặc môi trường khác, chúng trở nên vô cùng hỗn độn, và mặc dù những phương trình dùng để mô tả sự tăng trưởng của chúng rất đơn giản, mức tăng trưởng của chúng là không thể dự đoán được. Sự sinh trưởng của chúng tăng hay giảm thất thường tuỳ theo từng nơi chốn."

Có thể chỉ ra rất nhiều hệ phức tạp khác nhau mà ở đó tính hỗn độn biểu lộ. Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia:
"Lý thuyết hỗn độn đã sử dụng để nghiên cứu tính hỗn độn trong các mạch điện, chùm lasers, các hiện tượng dao động, các phản ứng hoá học, động học chất lỏng, các máy móc cơ học và máy cơ-học-từ-tính."

Khoa học cũng đã quan sát những ứng xử hỗn độn trong chuyển động của vệ tinh trong hệ mặt trời, sự “tiến hoá của thời gian” (time evolution) trong từ trường của các thiên thể, sự tăng trưởng số lượng của các quần thể sinh học, “tiềm năng tác động” (action potentials) trong các neurons thần kinh, và các dao động của phân tử.

Hàng ngày chúng ta có thể chứng kiến tính hỗn độn của thời tiết và khí hậu. Và hiện người ta đang tranh luận về tính hỗn độn trong hiện tượng “kiến tạo bề mặt trái đất” (plate tectonics) cũng như trong hệ thống kinh tế.

Tóm lại, Lý thuyết hỗn độn đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: toán học, sinh học, khoa học computer, kinh tế học, công nghệ học, hệ thống tài chính, triết học, vật lý, chính trị, động học về mức tăng trưởng của các quần thể, tâm lý học và khoa học robots. Một trong những ứng dụng thành công nhất của Lý thuyết hỗn độn là trong sinh thái học, trong đó mô hình của Ricker đã được sử dụng để chỉ rõ các quần thể sinh học tăng trưởng như thế nào. Lý thuyết hỗn độn cũng được áp dụng trong y khoa để nghiên cứu bệnh động kinh, … và vô số ứng dụng khác nữa.

6. Vài vấn đáp trên chủ đề “hiệu ứng con bướm” và hỗn độn:

1/ Có người thắc mắc, xét cho cùng thì Poincaré vẫn chưa giải xong “Bài toán ba vật thể”, vậy tại sao ông vẫn đoạt Giải Oscar II?

  • Một trong các thành viên hội đồng giám khảo là nhà toán học kiệt xuất Karl Weierstrass đánh giá: “Công trình này chưa thật sự được xem như đưa ra một lời giải đầy đủ của vấn đề đã được đặt ra, nhưng điều vô cùng quan trọng là nó sẽ mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong lịch sử của cơ học thiên thể”.
  • Và dưới ánh sáng khoa học hiện đại, nhà toán học Ian Stewart, giáo sư Đại học Warwick ở Anh, nhận định: “Đúng là ông chưa giải xong bài toán, nhưng ông đã tạo ra một tiến bộ đáng kinh ngạc tiến về phía trước. Ông đã sáng tạo ra một lĩnh vực hoàn toàn mới, một cách tư duy hoàn toàn mới”.
2/ Nếu chuyển động của n vật thể là hỗn độn thì tại sao hệ mặt trời lại ổn định?
  • Câu trả lời thuộc về các nhà vật lý thiên văn, tuy nhiên chúng ta có thể cho rằng hệ mặt trời thoả mãn những điều kiện xác định, làm cho nó trở thành một hệ đơn giản, thay vì một hệ phức tạp như các đối tượng nghiên cứu của Lý thuyết hỗn độn.

3/ Phải chăng giống như Định lý bất toàn, Lý thuyết hỗn độn chứa đựng yếu tố “chống khoa học”, bởi vì khoa học không thể là cái gì khác ngoài những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên? Bản thân khái niệm hỗn độn đã là một cái gì đó phản lại tính quy luật, tức là phản lại khoa học?
  • Có lẽ cần phải nhận thức lại khái niệm khoa học là gì. Khoa học không đơn giản chỉ là những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên, mà còn là tập hợp mọi nhận thức phản ánh trung thực bức tranh hiện thực. Định lý bất toàn và Lý thuyết hỗn độn là khoa học, bởi nó phản ánh bức tranh hiện thực chính xác hơn, đầy đủ hơn, trung thực hơn.
4/ Phải chăng toàn bộ vũ trụ là hỗn độn? Phải chăng tính bất định và hỗn độn tồn tại xen kẽ trong Tự nhiên, hoặc cái này bao trùm lên cái kia?
  • Câu trả lời vẫn bỏ ngỏ. Hiện nay chúng ta chỉ mới biết một phần nào đó của vũ trụ. Không ai có thể đưa ra một phán quyết rằng toàn bộ vũ trụ là tất định hay hỗn độn. Có những hệ đơn giản thể hiện tính tất định, nhưng cũng có rất nhiều hệ phức tạp mang bản chất bất định và hỗn độn. Có người cho rằng tính hỗn độn chỉ là một biểu hiện tương tác vật chất trong một phạm vi hẹp của một trật tự lớn hơn bao trùm, có nghĩa là quy luật tất định vẫn chiếm ưu thế.
  • Phải nói rằng phần lớn các nhà vật lý hiện nay vẫn là những môn đệ nhiệt thành của Chủ nghĩa tất định, trong đó Albert Einstein có lẽ là môn đệ nhiệt thành nhất, vì ông từng tuyên bố “Tôi muốn biết được ý Chúa”. Đó là lý do để ông quyết tâm xây dựng Lý thuyết trường thống nhất (Theory of Unified Field), và hậu duệ của ông đã tiếp tục sự nghiệp này dưới ngọn cờ Lý thuyết về mọi thứ (TOE – Theory of Everything).
  • Nhưng những nghiên cứu của Gregory Chaitin trong toán học lại ủng hộ tư tưởng bất định và hỗn độn nhiều hơn là tất định:
    • "Chaitin đã chứng minh rằng có một số vô hạn những sự kiện toán học nhưng phần lớn những sự kiện đó không liên hệ với nhau và không thể trói buộc chúng với nhau bằng những định lý thống nhất. Nếu các nhà toán học tìm thấy bất kỳ liên hệ nào giữa những sự kiện này thì đó chỉ là may mắn tình cờ. Phần lớn toán học đúng mà chẳng có lý do đặc biệt nào cả, toán học đúng bởi những lý do ngẫu nhiên … Chaitin nhận ra rằng số Omega đã nhiễm độc toàn bộ toán học, đặt ra giới hạn căn bản đối với cái chúng ta có thể biết. Hơn thế nữa, Omega mới chỉ là sự khởi đầu, thậm chí còn có nhiều con số phiền toái khác mà Chaitin gọi là những số Siêu-Omega – những con số thách thức mọi tính toán ngay cả khi chúng ta cố gắng mọi cách để hiểu được Omega. Dòng giống Omega – dòng giống những con số không thể tính được – đã để lộ ra rằng toán học không chỉ bị nhậy cắn thủng lỗ chỗ, mà hầu như đã bị thủng bởi những lỗ hổng toang hoác: Tình trạng hỗn độn, phi trật tự hoá ra là bản chất cốt lõi của Vũ Trụ(2)."
  • Ý kiến của Robert May (đã dẫn) có lẽ là công bằng nhất:
    • "Tôi muốn nói rằng chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng mà hầu hết những gì được dạy trong trường phổ thông và đại học vẫn tuân theo cách nhìn kiểu Newton – phần lớn những điều chúng ta được dạy là thế giới vẫn tuân theo một trật tự … thế giới ấy có thể dự đoán được, còn ở đâu có chuyện rắm rối phức tạp và không thể dự đoán được, chẳng hạn như tại chiếc bàn quay roulette trong các sòng bạc, thì chẳng qua đó chỉ là một đống lộn xộn. Nhưng tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Hiện nay chúng ta đã biết rằng khi quy luật đủ đơn giản thì hiện tượng xẩy ra cũng đơn giản, nhưng mặt khác, chúng ta không thể tạo ra “chiếc đồng hồ đơn giản kiểu Newton”. Với những phương trình mô tả chiếc đồng hồ Newton, quả lắc đồng hồ đôi khi có thể dao động bình thường như bạn dự đoán, nhưng nhiều lúc khác nó lại gây nên tình trạng hoàn toàn hỗn độn và không thể dự đoán được."
5/ Liệu có thể “Tây phương hoá”, tức là logic hoá và toán học hoá những lý thuyết có khả năng tiên tri của khoa học Đông phương cổ truyền, như Kinh Dịch hoặc Tử vi, … để bổ sung cho khả năng tiên tri của khoa học Tây phương hay không?

  • Có hai lý do để tham vọng này khó biến thành hiện thực:
    • Một, khoa học Đông phương không dựa trên logic suy diễn và chứng minh, mà chủ yếu dựa trên cảm nghiệm trực giác, mặc dù nó có những nguyên lý cơ bản vô cùng cô đọng đã được hình thức hoá. Vì thế, tham vọng logic hoá các khoa học cổ truyền Đông phương là đi ngược lại phương pháp tiếp cận chân lý của chính Đông phương cổ truyền. Phương pháp suy diễn logic và chứng minh của khoa học Tây phương tự bản thân nó đã không đủ để chứng minh mọi chân lý. Định lý bất toàn gợi ý rằng thế giới nhận thức của con người lớn hơn thế giới logic chứng minh rất nhiều. Chỗ hơn hẳn của con người so với tư duy logic máy móc chính là trực giác: Khả năng cảm nhận chân lý một cách trực tiếp không cần suy luận. Vậy logic hoá và toán học hoá Kinh Dịch e rằng chỉ làm giảm giá trị của Kinh Dịch, thay vì nâng nó lên một tầm cao hơn của nhận thức. Đã có một giáo sư vật lý Việt Nam thực hiện một công trình toán học hoá Kinh Dịch rất công phu(3), nhưng công trình này không để lại một ấn tượng nào đủ lớn trong cộng đồng khoa học Việt nam cũng như thế giới. Có lẽ vì nó không đủ sức thuyết phục.
    • Hai, giả sử toán học hoá và logic hoá Kinh Dịch hoặc Tử vi thành công, tôi e rằng hệ thống dữ kiện ban đầu của nó không đủ để khắc phục được “Hiệu ứng con bướm” – hiện tượng bất định và hỗn độn của các hệ thống phức tạp trong Tự nhiên và xã hội.
  • Chẳng hạn, có trường hợp hai chị em sinh đôi cùng trứng, và tất nhiên là cùng năm cùng tháng cùng ngày cùng giờ và cùng nơi sinh. Vậy mà số phận lại khác nhau một trời một vực. Một người thì liên tục gặp may mắn, một người thì gặp hết rủi ro này đến rủi ro khác. Phải chăng sự khác biệt vô cùng lớn này xuất phát từ một khác biệt vô cùng nhỏ nào đó trong dữ kiện ban đầu (lúc sinh ra đời) của hai chị em này? Nếu nhận định này đúng thì có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn cũng tác động ngay cả trong khoa học chiêm tinh! Vì thế khoa học chiêm tinh cũng chỉ đúng với những “hệ” đơn giản và ngắn hạn, và sẽ “hỗn độn” với những “hệ” phức tạp và lâu dài! Vậy có cách nào bổ sung cho hệ thống dữ kiện ban đầu của các khoa học Đông phương cổ truyền hay không? Nhưng dù có bổ sung đến mấy đi chăng nữa, như đã nói ở các phần trên, sẽ chẳng bao giờ có một hệ thống dữ kiện ban đầu tuyệt đối chính xác – bản chất bất định của các phép đo dữ kiện ban đầu. Điều đó có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn là không thể khắc phục được đối với bất kỳ hệ phức tạp nào, dù là Tây phương hay Đông phương!
  • Nhưng tại sao vẫn có những tiên tri đúng đến mức làm mọi người phải kinh ngạc, như tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nostra Damus, hay gần đây hơn là Nicolas Tesla, …?
  • Có lẽ các nhà tiên tri này chỉ dựa một phần nào vào những mô hình logic tất định (Tây phương hoặc Đông phương) để đưa ra những tiên tri kỳ lạ của họ, mà chủ yếu dựa trên trực giác đặc biệt – một thứ “Don de Dieu” (một ân huệ của Trời). Sự thật có đúng như vậy không? Điều này vẫn là một ẩn số lớn của chiêm tinh học mà khoa học ngày nay chưa thể giải mã, và cũng vượt quá phạm vi thảo luận của bài viết này.

7. Kết:

Xét cho cùng thì “Hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn của Tự nhiên cũng đã được kinh nghiệm dân gian truyền tụng từ lâu. Đó là câu ngạn ngữ “Sai một ly đi một dặm”!

Sydney ngày 01 tháng 11 năm 2009
PVHg

Chú thích:

  • (1): Một kiểu diễn đạt “Hiệu ứng con bướm” của Melvyn Bragg trong cuốn “On Giant’s Shoulders” (Đứng trên vai những người khổng lồ), chương nói về Henri Poincaré.
  • (2): Xem “Tính ngẫu nhiên của toán học” của Phạm Việt Hưng trên Khoa Học & Tổ Quốc tháng 9-2009
  • (3): Một công trình nghiên cứu rất công phu của cố Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương.

Tài liệu tham khảo:

  • “On Giant’s Shoulders”, Melvyn Bragg, Sceptre publication, London, 1998
  • “What is Chaos?”, Matthew Trump, 14-08-1998 , có thể tìm trên mạng, địa chỉ: http://order.ph.utexas.edu/chaos
  • Wikipedia, mục từ “Henri Poincaré” và mục từ “Three body problem”.




Bồn cầu không tốn nước, phát kiến tuyệt vời được Bill Gates tài trợ

Quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates 5 năm trước đã tuyên bố trước thế giới sẽ sản xuất ra một loại toilet rất bền và hoàn toàn không tốn kém, hứa hẹn tạo ra một cuộc cách mạng về vấn đề an toàn vệ sinh dịch tễ.

Vào tháng 9 năm 2012, các nhà nghiên cứu của đại học Cranfield đã được quỹ từ thiện gia đình Gates tài trợ 710.000 USD để cho ra đời sản phẩm có tên gọi là Nano Membrane Toilet.

Ngày 22/03 hàng năm được mọi người biết đến là ngày thế giới vì nước sạch (World Water Day), một sự thật đáng buồn là hiện tại vẫn có hơn 2.4 tỷ người tức là có khoảng ¼ dân số thế giới đang phải sống trong môi trường vệ sinh dịch tễ không an toàn.

Một cộng đồng người dân đang sống trong cảnh thiếu thốn nguồn nước sạch, họ đang có những nguy cơ nhiễm các bệnh liên quan đến vệ sinh rất cao.

Chiếc bồn cầu Nano Membrane Toilet này được thiết kế với kì vọng sẽ giúp xóa bỏ sự thật trần trụi này. Nano Membrane Toilet không tốn nước, rất dễ sử dụng và đang được thử nghiệm chính thức. Rất có thể chiếc Toilet này sẽ là các giải pháp tương lai cho các vấn đề vệ sinh toàn cầu.

Cấu tạo chiếc bồn cầu Nano Membrane Toilet.

Giảng viên tại học viện nghiên cứu khoa học về nước sạch Cranfield Alison Parker hy vọng thiết kế Toilet mới này sẽ đến được với các khu đô thị nghèo khi những khu vực như vậy là những nơi cần có sáng chế này nhât.

Cô Alison Parker nói thêm: "Toilet này sẽ được sử dụng ở những nơi khó có được vấn đề vệ sinh tốt như các khu đô thị nghèo và đông đúc, nhưng vẫn phải đảm bảo vị trí đó sẽ có kĩ thuật viên đến kiểm tra được 6 tháng 1 lần."


Thiết kế bên trong của chiếc Toilet này khá phức tạp.

Sau khi một người đi vệ sinh xong và bấm nút xả, guồng quay của toilet sẽ quay 270 độ cho phép chất thải đi xuống một bồn chứa phía dưới nó. Sau khi guồng quay thực hiện xong công việc của mình, một dụng cụ hoạt động như những chiếc bàn chải sẽ quét sạch những gì còn sót lại ở guồng quay.

Bồn cầu Nano Membrane Toilet sử dụng rất ít nước.

Các chất thải dạng rắn sẽ nằm ở đáy bồn chứa, và những chất thải lỏng sẽ nổi lên trên.

Các sợi bé li ti, hay còn lại là nanofiber được tích hợp thành từng bó bên trong thùng chứa sẽ lọc các hơi nước tồn tại trong chất thải lỏng và đưa hơi nước đó vào một ống thẳng đứng ở bên cạnh bồn cầu.

Tiếp theo, hơi nước sẽ được xử lý bởi các hạt có trong ống thẳng đứng, được tích tụ thành nước, sau đó loạt nước này sẽ chảy qua ống thẳng đứng vào một bình chứa ở trước bồn cầu.

Bồn cầu có thể sử dụng cho gia đình 10 người.

Các chất thải rắn còn lại sẽ được chuyển sang một bình chứa riêng bằng một động cơ chạy bằng pin. Trong bình chứa sẽ có sáp thơm để ngăn mùi, các chất thải rắn ở đây sẽ được để khô.

Cứ mỗi tuần, một kĩ thuật viên sẽ đi thu thập các chất thải rắn và nước trong ống, và sẽ thay pin cho toilet nếu cần thiết.

Lượng nước trong ống có thể được dùng trong các sinh hoạt hàng ngày như nấu ăn, tắm rửa, tưới tiêu... Còn các chất thải rắn sẽ được đưa vào các nhà máy nhiệt điện để sản xuất điện.

Chiếc bồn cầu này có thể được sử dụng trong một hộ gia đình với 10 người, tiêu tốn không quá 0.05 USD mỗi ngày mỗi người. Và trong năm nay chiếc toilet này sẽ được đưa ra thử nghiệm chính thức.

Một cuộc cách mạng trong vấn đề vệ sinh dịch tễ toàn cầu.

Thách thức lớn nhất của các nhà nghiên cứu đối với chiếc toilet này đó là đưa được nó vào sử dụng rộng rãi.

Rất nhiều các sáng chế đều thành công khi ở giai đoạn thử nghiệm, nhưng trên thực tế để đưa được một sáng chế vào sử dụng rộng rãi thì không phải là dễ.

Để chiếc toilet này được sử dụng hiệu quả và an toàn, các chính quyền địa phương sẽ phải đào tạo nhân viên chuyên chỉ để vận hành chiếc toilet này. Quá trình này sẽ khá tốn thời gian bởi một số các nhà khoa học đã phải bỏ ra hàng năm trời thiết kế các sản phẩm của mình mà họ cũng chưa chắc đã vận hành tốt.

Hiện tại vấn đề giấy vệ sinh vẫn đang còn nan giải đối với sáng chế mới này, nhưng hy vọng trong tương lai các nhà khoa học sẽ nghiên cứu ra giải pháp để giải quyết vấn đề này.

Với sáng chế mới này, Bill Gates và phu nhân của ông đang góp phần làm thay đổi vận mệnh của vấn đề an toàn vệ sinh dịch tễ trên toàn cầu.



Theo: genK.vn





Pin Mặt Trời nhẹ như bong bóng xà phòng.

Các nhà khoa học Mỹ phát minh loại pin quang điện siêu mỏng và siêu nhẹ, có thể đặt trên đỉnh những bong bóng xà phòng mà không làm vỡ chúng.

Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí Organic Electronics, các nhà khoa học cho biết chìa khóa để tạo ra loại pin mới là kết hợp sản xuất pin, chất xúc tác hóa học và lớp phủ bảo vệ trong cùng một quá trình. "Tấm pin nhẹ đến mức bạn thậm chí không biết đến sự tồn tại của nó trên áo quần hay sổ tay", Science Alert dẫn lời Vladimir Bulović, nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ Massachusetts.

Một lợi ích khi kết hợp pin Mặt Trời và chất xúc tác hóa học là tác dụng bảo vệ trước bụi và ô nhiễm. Nhóm nghiên cứu sử dụng một polymer dẻo tên parylene để làm chất xúc tác hóa học và chất phủ, trong khi vật liệu hữu cơ DBP (dibutyl phthalate) được dùng để tạo lớp hấp thụ ánh sáng cơ bản.

Loại pin mặt trời do các nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ Massachusetts có thể đặt trên bong bóng xà phòng. (Ảnh: MIT).

Khác với những phương pháp sản xuất pin Mặt Trời thông thường, quá trình mới diễn ra trong một buồng chân không ở nhiệt độ phòng mà không cần sử dụng dung dịch hòa tan hoặc chất hóa học khác. Nhóm nghiên cứu vận dụng kỹ thuật kết tủa hơi, trong đó nhiệt độ, áp suất, phản ứng hóa học cho ra đời lớp phủ rất mỏng trên một vật liệu cụ thể, để cùng lúc sản xuất pin Mặt Trời và chất xúc tác.

Các nhà nghiên cứu cho biết kỹ thuật này tạo nên bước đột phá vô cùng quan trọng. Kết quả là những tấm pin siêu mỏng và linh hoạt, chỉ dày bằng 1/5 sợi tóc người và bằng 1/1000 loại pin thủy tinh hiện nay (khoảng hai micromet), nhưng vẫn có thể chuyển ánh sáng Mặt Trời thành điện một cách hiệu quả. "Nếu thở quá mạnh, bạn có thể thổi bay nó", Joel Jean, một thành viên nhóm nghiên cứu, nói.

Theo các nhà phát minh, phương pháp sản xuất mới giúp đặt pin Mặt Trời trên các vật liệu như vải và giấy. Các tấm pin kiểu này cũng hữu dụng ở trong vũ trụ hoặc trên độ cao lớn, nơi yếu tố khối lượng rất quan trọng. Tuy nhiên, loại pin Mặt Trời mới cần thêm vài năm để hoàn thiện trước khi sản xuất hàng loạt.



Theo VnExpress


Phẫu thuật cấy ghép đốt sống cổ bằng công nghệ in 3D đầu tiên đã thành công.

Mặc dù cho đến giờ chúng ta vẫn chưa phổ biến được máy in 3D tại gia nhưng trong y học, công cụ này đã trở nên vô cùng hữu ích. Những bộ phận cấy ghép 3D mang lại hiệu quả y học đáng kinh ngạc, giống như điều mà một bác sĩ người Úc vừa thực hiện.

Cuối năm 2015, Ralph Mobbs, nhà giải phẫu thần kinh tại Bệnh viện Prince of Wales ở Sydney tiếp nhận một bệnh nhân đang trong cơn hiểm nghèo. Người này mắc phải dạng ung thư chết người có tên chordoma (u nguyên sống). Bệnh nhân ngoại lục tuần và khối u nằm ở vị trí rất khó để có thể thực hiện phẫu thuật. Mobbs kể lại: "Trên cổ có 2 đốt sống chuyên biệt liên quan đến khả năng xoay và uốn của đầu. Khối u này nằm ở trên cả 2 đốt sống đó".

Vị trí hiểm nghèo của khối u.

Nếu không được điều trị, khối u này sẽ từ từ đè lên thân não và cột sống, gây nên liệt. Thật tồi tệ!

Trước đây không có nhiều phương án điều trị khối u này bởi vị trí khó tiếp cận của nó cũng như rủi ro tới người bệnh ở mức cao. Nếu bác sĩ cố gắng hoàn nguyên lại 2 đốt sống cổ, họ sẽ phải lấy xương ở bộ phận khác để thay thế. Tuy nhiên, phương án này gần như bất khả thi vì cực kỳ khó để kiếm được mẩu xương nào vừa vặn và phù hợp.

Đó là lúc Mobbs quyết định nhờ cậy đến công nghệ in 3D.

"Tôi nhận thấy đó là một cơ hội tuyệt vời. Với công nghệ in 3D, bệnh nhân có thể được cung cấp những phần cơ thể được tùy chỉnh để đạt tới thành công trong phẫu thuật, tốt hơn tất cả những gì chúng tôi có từ trước tới nay".

Để làm được điều này, Mobbs đã làm việc với một công ty cung cấp thiết bị y tế của Úc có tên là Anatomics. Ngoài việc làm những bộ phận cấy ghép bằng titanium, công ty này còn in cho bác sĩ chính xác mẫu cơ thể của bệnh nhân để họ có thể thực tập trên đó trước khi bắt tay vào mổ thật.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một ca phẫu thuật đốt sống cổ được thực hiện bằng cách này.

Phẫu thuật sử dụng những phần cơ thể được in 3D không phải là mới, nó đã được thực hiện từ nhiều năm nay nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một ca phẫu thuật đốt sống cổ được thực hiện bằng cách này. Mobbs cho biết: "Có được phần cấy ghép mà bạn biết chắc sẽ vừa vặn vì trước đó đã ghép thử trên một mô hình thực sự là thú vị hết sức. Nó như thể một người nào đó vừa bật đèn và nói 'này nếu đây không phải là tương lai thì tôi chẳng biết gọi nó là cái gì nữa'".

Ca phẫu thuật kéo dài tới hơn 15 giờ. Đến giờ, bệnh nhân đã hồi phục rất tốt, theo lời Mobbs, chỉ phải đối phó với một số hiệu ứng do tiến hành phẫu thuật qua dường miệng quá lâu. "Anh ấy hơi khó nuốt, nhưng đang hồi phục dần dần rồi".


Theo Trí Thức Trẻ




Vượt qua rào cản lưu trữ: Các nhà nghiên cứu tạo ra các đĩa 5D với dung lượng 360 TB và tuổi thọ gần như vĩnh cửu.

Các nhà khoa học Anh tạo ra bộ nhớ dung lượng 360 TB siêu nhỏ có tuổi thọ gần như vĩnh cửu. Hiện công nghệ và sản phẩm này đang được gọi với cái tên là 5D optical storage - Đĩa Lưu trữ quang học 5D.

Các chuyên gia ước tính con người đang tạo ra lượng dữ liệu tương đương với 10 triệu đĩa Blu- ray mỗi ngày. Để lưu lại những dữ liệu này dưới dạng mã nhị phân cần một bộ nhớ khổng lồ.

Theo Science Alert, vấn đề này có thể giải quyết bằng đĩa dữ liệu kỹ thuật số năm chiều (5D) của các nhà khoa học tại Đại học Southampton, Anh. Mỗi đĩa có thể lưu trữ dung lượng lên tới 360 terabyte (TB) hay 360.000 gigabyte (GB), và tuổi thọ của đĩa dữ liệu có thể đạt 13,8 tỷ năm.


Để tạo đĩa dữ liệu 5D, các nhà nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ghi laster femto giây (1 femto giây = 10 - 15 giây). Kỹ thuật này cho phép tạo ra các đĩa thủy tinh nhỏ bằng tia laser xung cực ngắn và cường độ xung cao. Các xung này có thể ghi dữ liệu dưới 3 lớp cấu trúc chấm nano cách nhau 5 micromet (0,005mm).


Ngoài thông tin về vị trí 3 chiều trong không gian, chấm nano còn mang thông tin về độ lớn và hướng của chính nó. Do đó, mỗi chấm nano mang 5 đơn vị thông tin (5D). Các cấu trúc chấm nano tạo ra bằng công nghệ ghi laser cực nhanh có thể được đọc bằng kính hiển vi quang học kết hợp với một tấm phân cực ánh sáng.

Nhóm nghiên cứu cho biết những đĩa dữ liệu 5D này sẽ rất hữu ích cho các tổ chức và cá nhân làm việc với lượng lớn dữ liệu như thư viện, bảo tàng, hay bất cứ nơi nào cần lưu trữ dữ liệu hàng loạt như trung tâm dữ liệu của Facebook.

"Thật thú vị khi phát minh công nghệ giúp lưu trữ tài liệu, kiến thức và thông tin cho các thế hệ tương lai", Peter Kazansky, một thành viên nhóm nghiên cứu, chia sẻ. "Công nghệ này có thể bảo vệ bằng chứng cuối cùng về nền văn minh của chúng ta. Tất cả những hiểu biết của chúng ta sẽ không bị lãng quên".

Các nhà khoa học vừa giới thiệu phát minh tại Hội nghị Kỹ thuật Quang học Quốc tế diễn ra ở San Francisco từ hôm 16 đến 18/2. Họ hy vọng có thể tìm được cơ hội hợp tác để hoàn thiện và phát triển thành sản phẩm thương mại.

Nhóm nghiên cứu đã bắt đầu sao lưu nhiều tài liệu, trong đó có Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), cuốn Opticks của Newton, Đại Hiến chương (Magna Carta) của Anh, và Kinh Thánh.




Theo VnExpress